PVLC Mùa Thường niên tuần IX Thứ 3 và Thánh Justinô Tử Đạo ngày 1/6

Bài Đọc I: (Năm I) Tob 2, 10-23

"Tuy bị mù ḷa, ông cũng không phiền trách Thiên Chúa".

Trích sách Tobia.

Xảy ra trong một ngày nọ, Tobia đi chôn xác mệt nhọc, trở về nhà, ông liền nằm ngủ bên vách tường, th́ phân nóng chim én từ tổ rơi xuống mắt ông, khiến ông bị mù.

Chúa cho phép ông chịu thử thách như thế, để nêu gương nhẫn nại cho hậu thế như thánh Gióp xưa.

V́ từ lúc c̣n bé, ông có ḷng kính sợ Thiên Chúa, và tuân giữ giới răn của Người, tuy bị mù ḷa, ông cũng không phiền trách Thiên Chúa.

Trái lại, ông vẫn một ḷng kính sợ Thiên Chúa, và tạ ơn Người hằng ngày trong đời ông.

Vả các vua xưa nhạo báng thánh Gióp thế nào, th́ nay bà con họ hàng cũng chê cười đời sống của ông mà rằng: "Hy vọng của ông ở đâu? Ông làm phúc và chôn xác được ích ǵ?"

Nhưng Tobia quở trách họ rằng: "Các ngươi đừng nói vậy, v́ chúng ta là con cái các thánh, chúng ta trông đợi cuộc sống mà Thiên Chúa sẽ ban cho những ai không bao giờ thay đổi ḷng tin vào Người".

C̣n bà vợ của ông là Anna, hằng ngày đi dệt vải, hễ kiếm được ǵ bởi tay ḿnh làm để nuôi thân, bà đem về, bởi đó, có lần bà nhận được một con dê đem về nhà; ông ông chồng nghe tiếng dê be be, liền nói: "Coi chừng, kẻo lỡ phải của ăn trộm đó. Hăy dắt đem trả cho chủ nó, v́ chúng ta không được phép dùng đến của ăn trộm".

Bà vợ ông nổi giận trả lời rằng: "Rơ là niềm hy vọng của ông ra vô ích, và kết quả việc bố thí của ông nay đă rơ ràng!"

Và bà tiếp tục nói những lời như thế mà mạt sát ông.

Đó là Lời Chúa.

 

Đáp Ca: TV. 111, 1-2, 7bc-8,9

Đáp: Ḷng người công chính vững vàng trông cậy vào Chúa.

Xướng 1) Ph1uc đức thay người tôn sợ Chúa, người hết ḷng hâm mộ luật pháp của Ngài. Con cháu người sẽ hùng cường trong Đất Nước: thiên hạ sẽ chúc phúc cho ḍng dơi hiền nhân. - Đáp.

2) Người không kinh hăi v́ nghe tin buồn thảm, ḷng người vững vàng, cậy trông vào Chúa. Ḷng người kiên nghị, người không kinh hăi, cho tới khi nh́n thấy kẻ thù phải hổ ngươi. - Đáp.

3) Người ban phát và bố thí cho những kẻ nghèo, ḷng quảng đại của người muôn đời c̣n măi, sừng người được ngẩng lên trong vinh quang. - Đáp.

 

Alleluia: 1 Pr 1, 25

Alleluia, alleluia! - Lời Chúa tồn tại muôn đời, đó là lời Tin Mừng đă rao giảng cho anh em. - Alleluia.

 

Phúc Âm: Mc 12, 13-17

"Các ông hăy trả cho Cêsarê cái ǵ thuộc về Cêsarê, và trả cho Thiên Chúa cái ǵ thuộc về Thiên Chúa".

Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Marcô.

Khi ấy, người ta sai mấy người thuộc nhóm biệt phái và đảng Hêrôđê đến Chúa Giêsu để lập mưu bắt lỗi Người trong lời nói. Họ đến thưa Người rằng: "Thưa Thầy, chúng tôi biết Thầy là người chân thật không vị nể ai, v́ Thầy chẳng xem diện mạo, một giảng dạy đường lối Thiên Chúa cách rất ngay thẳng. Vậy chúng tôi có nên nộp thuế cho Cêsarê không? Chúng tôi phải nộp hay là không?" Nhưng Người biết họ giả h́nh, nên bảo rằng: "Sao các ông lại thử Ta? Hăy đưa Ta xem một đồng tiền". Họ đưa cho Người một đồng tiền và Người hỏi: "H́nh và kư hiệu này là của ai?" Họ thưa: "Của Cêsarê". Người liền bảo họ: "Vậy th́ của Cêsarê, hăy trả cho Cêsarê; của Thiên Chúa, hăy trả cho Thiên Chúa". Và họ rất đỗi kinh ngạc về Người.

Đó là lời Chúa.


 



Suy Niệm Cảm Nghiệm


 
"Chúa đă dựng nên con cho Chúa nên ḷng con khắc khoải cho đến khi được nghỉ yên trong Chúa"


(Thánh Augustino: Tự Thú I,1).


Suy Niệm
 

Bài Phúc Âm Thứ Ba Tuần IX Thường Niên hôm nay thuật lại câu Chúa Giêsu trả lời cho "nhóm biệt phái và đảng Hêrôđê" là thành phần "lập mưu bắt lỗi Người trong lời nói" đó là "
hăy trả về cho Cesa những ǵ của Cesa và trả cho Thiên Chúa những ǵ của Thiên Chúa".
 
Câu trả lời của Người dù đă làm cho "họ rất đỗi kinh ngạc về Người", như bài Phúc Âm kết thúc, thế nhưng, trước khi trả lời cho câu họ đặt ra: "Vậy chúng tôi có nên nộp thuế cho Cêsa không?", một câu hỏi thật hóc búa, Người trả lời đằng nào cũng chết, "có" th́ theo đế quốc Roma phản dân tộc, c̣n "không" th́ tỏ ra xui dân phản loạn với đế quốc này, Người đă phải căn cứ vào một vật thể, đó là "đồng tiền", v́ vấn đề "nộp thuế cho Cêsa" liên quan đến "đồng tiền" của đế quốc Rôma. 
 
Thế rồi sau khi "họ đưa cho Người một đồng tiền và Người hỏi: 'H́nh và kư hiệu này là của ai đây?' Họ thưa: 'Của Cêsa'. Người liền bảo họ: 'Vậy th́ của Cêsa, hăy trả cho Cêsa; của Thiên Chúa, hăy trả cho Thiên Chúa'". 
 
Câu trả lời này của Chúa Giêsu không phải chỉ là một nguyên tắc cần phải áp dụng vào lănh vực chính trị, ám chỉ phải tuân phục quyền bính thích hợp, mà c̣n có một ư nghĩa sâu xa hơn nữa, đó là dù có tuân phục quyền bính trần gian ("trả cho Cêsa") nhưng với một tinh thần đức tin siêu nhiên v́ Chúa ("trả cho Thiên Chúa"), ở chỗ, v́ Chúa là Đấng quan pḥng làm chủ lịch sử hơn là v́ sợ con người có quyền bính: "Đừng sợ kẻ chỉ giết được thân xác mà không thể nào hủy hoại được linh hồn. Đúng ra hăy sợ Đấng có thể hủy hoại cả hồn lẫn xác trong hỏa ngục" (Mathêu 10:28).
 
Chưa hết "của Cesa trả cho Cesa, của Thiên Chúa trả cho Thiên Chúa" c̣n có nghĩa là "người ta không sống nguyên bởi bánh mà c̣n bởi mọi lời do miệng Thiên Chúa phán ra" (Mathêu 4:4). Cho dù cần phải "có thực mới vực được đạo", thế nhưng, v́ con người được dựng nên để được sống đời đời chứ không phải chỉ sống trên thế gian mau qua tạm gửi này thôi, nên "chính thần trí mới cống hiến sự sống chứ xác thịt là thứ vô dụng" (Gioan 6:63): "cái ǵ sinh bởi xác thịt là xác thịt, cái ǵ sinh bởi Thần Linh là Thần Linh" (Gioan 3:6).
 
Bởi thế, trong Bài Giảng Phúc Đức Trọn Lành trên núi, Chúa Kitô đă khẳng định với thành phần môn đệ của Người là "không ai có thể làm tôi hai chủ ... Các con không thể vừa làm tôi cho Thiên Chúa vừa làm tôi cho tiền của được" (Mathêu 6:24). Nghĩa là "của Cesa hăy trả cho cesa và của Thiên Chúa hăy trả cho Thiên Chúa" là thế. 
 
Nếu "h́nh và kư hiệu" trên đồng tiền được thành phần âm mưu bắt bẻ Người bảo là "của Cesa" ở đây và v́ thế "của Cesa hăy trả cho Cesa", th́ con người được nên theo h́nh ảnh của Thiên Chúa và tương tự như Thiên Chúa (xem Khởi Nguyên 1:26-27), có thể so sánh như một đồng tiền quí giá, nếu không muốn nói là vô giá, chứ không phải đồ bỏ v́ mang "h́nh và kư hiệu" của Thiên Chúa nên cần phải trả về cho Ngài những ǵ thuộc về Ngài, nghĩa là cần phải sống xứng đáng với ơn gọi và thân phận thần linh của ḿnh. Ở chỗ, như Thánh Âu Quốc Tinh (Augustine), sau cuộc đời vừa lạc giáo về tâm thần vừa trác táng về xác thể, đă có được một cảm nghiệm rất chí lư và xác thực là: "Chúa đă dựng nên con cho Chúa nên ḷng con khắc khoải cho đến khi được nghỉ yên trong Chúa" (Tự Thú I,1).
 

Cảm Nghiệm

Thật vậy, nếu con người được dựng nên theo h́nh ảnh Thiên Chúa và tương tự như Thiên Chúa (xem Khởi Nguyên 1:26-27) th́ quả thực chỉ có một ḿnh Thiên Chúa là tất cả moị sự của con người và cho con người, là nguyên ủy và là cùng đích của họ, ngoài Ngài ra con ngựi chắc chắn sẽ bị lầm lạc và chẳng bao giờ có hạnh phúc chân thật, trọn hảo và bất tận, nếu con người không t́m kiếm Ngài, nhận biết Ngài, chấp nhận Ngài và đáp ứng Ngài.

Trong Bài Đọc 1 hôm nay, nhân vật Tobia cha, trước mắt trần gian có vẻ bị bất hạnh và khốn nạn đấy, nhưng trước nhan Thiên Chúa, nhân vật này quả thực đă tỏ ra ḿnh là một đồng tiên quí giá mang "h́nh và huy hiệu" của Thiên Chúa, bằng đời sống tin tưởng Ngài và kính sợ Ngài của ông: "Từ lúc c̣n bé, ông có ḷng kính sợ Thiên Chúa, và tuân giữ giới răn của Người", Đấng v́ thế phải chăng đă càng cần phải làm cho "h́nh và huy hiệu" của Ngài càng trở thành đậm nét hơn nữa nơi con người và cuộc đời của nhân vật này bằng những gian nan khốn khó: "Xảy ra trong một ngày nọ, Tobia đi chôn xác mệt nhọc, trở về nhà, ông liền nằm ngủ bên vách tường, th́ phân nóng chim én từ tổ rơi xuống mắt ông, khiến ông bị mù. Chúa cho phép ông chịu thử thách như thế, để nêu gương nhẫn nại cho hậu thế như thánh Gióp xưa".

Quả thực nhân vật Tobia cha này đă chẳng những "trả về cho Thiên Chúa những ǵ của Thiên Chúa" ở chỗ: "tuy bị mù ḷa, ông cũng không phiền trách Thiên Chúa. Trái lại, ông vẫn một ḷng kính sợ Thiên Chúa, và tạ ơn Người hằng ngày trong đời ông", mà c̣n "trả về cho Cesa những ǵ của Cesa" là thế gian được tiêu biểu nơi thành phần "bà con họ hàng cũng chê cười đời sống của ông mà rằng: 'Hy vọng của ông ở đâu? Ông làm phúc và chôn xác được ích ǵ?'" như thế này: "Các ngươi đừng nói vậy, v́ chúng ta là con cái các thánh, chúng ta trông đợi cuộc sống mà Thiên Chúa sẽ ban cho những ai không bao giờ thay đổi ḷng tin vào Người".

"Ḷng người công chính vững vàng trông cậy vào Chúa", câu thưa chính của Bài Đáp Ca hôm nay thật là chính xác nơi trường hợp của nhân vật Tobia cha trong Bài Đọc 1 hôm nay, một nhân vật đă được chính Thiên Chúa càng in đậm nét "h́nh và huy hiệu" của Ngài nơi con người và trong cuộc đời của nhân vật này, một nhân vật thực sự đă biết "trả về cho Thiên Chúa những ǵ của Thiên Chúa, và trả về cho Cesa những ǵ của Cesa", một nhân vật đáng được Thánh Vịnh gia thán phục và ca ngợi trong Bài Đáp Ca hôm nay:

1) Phúc đức thay người tôn sợ Chúa, người hết ḷng hâm mộ luật pháp của Ngài. Con cháu người sẽ hùng cường trong Đất Nước: thiên hạ sẽ chúc phúc cho ḍng dơi hiền nhân.

2) Người không kinh hăi v́ nghe tin buồn thảm, ḷng người vững vàng, cậy trông vào Chúa. Ḷng người kiên nghị, người không kinh hăi, cho tới khi nh́n thấy kẻ thù phải hổ ngươi.

3) Người ban phát và bố thí cho những kẻ nghèo, ḷng quảng đại của người muôn đời c̣n măi, sừng người được ngẩng lên trong vinh quang.

 

 Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL. Nếu có thể xin nghe chia sẻ theo cảm hứng hơn là đọc lại bài chia sẻ trên

 


 

ThuBaTuanIXTN.mp3   
 


 

 

Ngày 1 tháng 6

Thánh Giút-ti-nô, tử đạo


 
Thánh nhân là một triết gia và là anh hùng tử đạo. Người sinh tại Phơ-la-vi-a Nê-a-pô-li, ở Sa-ma-ri, trong một gia đ́nh ngoại giáo, đầu thế kỷ II. Sau khi tin Chúa Ki-tô, người đă viết nhiều tác phẩm bênh vực Ki-tô giáo. Trong số đó, c̣n lại hai tác phẩm “Minh giáo” gửi cho hoàng đế An-tô-ni-ô và “Đối thoại với ông Tri-phông”, tranh luận với người Do-thái. Người cũng mở một trường dạy triết lư ở Rô-ma. Bị một đồng nghiệp tố cáo, người một ḷng son sắt tuyên xưng đức tin trước mặt quan toà và đă được phúc tử đạo cùng với sáu Ki-tô hữu khác, quăng năm 165, thời hoàng đế Mác-cô Au-rê-li-ô.

Tôi đă theo đạo lư chân thật của các Ki-tô hữu

Bài đọc 2 giờ kinh sách ngày 1/6

Trích sử liệu về cuộc tử đạo của thánh Giút-ti-nô và các bạn.

Sau khi bị bắt, các thánh được điệu tới tổng trấn Rô-ma, tên là Rút-ti-cô. Lúc các ngài ra trước toà án, tổng trấn Rút-ti-cô nói với thánh Giút-ti-nô : “Trước hết ngươi phải tin các thần minh và tôn kính các hoàng đế.” Thánh Giút-ti-nô trả lời : “Các ông không thể tố cáo hay bắt giam chỉ v́ chúng tôi tuân lệnh Đức Giê-su Ki-tô, Đấng cứu độ chúng tôi.”

Quan Rút-ti-cô nói : “Nhà ngươi xưng tụng học thuyết ǵ vậy ?” Thánh Giút-ti-nô trả lời : “Tôi đă cố học đủ mọi thứ học thuyết, nhưng tôi đă theo đạo lư chân thật của các Ki-tô hữu, dù đạo lư ấy không minh nhiên đối với những người đang ch́m đắm trong sự lầm lạc.”

Tổng trấn Rút-ti-cô nói : “Đạo lư ấy mà ngươi cho là minh nhiên ư, hỡi tên khốn kiếp ?” Thánh Giút-ti-nô trả lời : “Phải, v́ giáo huấn đúng nên tôi theo đạo lư đó.”

Tổng trấn Rút-ti-cô nói : “Giáo huấn đó thế nào ?” Thánh Giút-ti-nô trả lời : “Chúng tôi thờ Thiên Chúa của các Ki-tô hữu ; chúng tôi tin Người là Đấng Tạo Thành duy nhất từ ban đầu, là Hoá Công toàn thể thụ tạo hữu h́nh và vô h́nh ; và chúng tôi tin Chúa Giê-su Ki-tô là Con Thiên Chúa, Đấng được các ngôn sứ tiên báo sẽ đến rao giảng ơn cứu độ cho loài người và dạy dỗ các môn đệ Người tuyển chọn. Và v́ tôi là người phàm, nên tôi nghĩ chỉ có thể nói được một vài điều, bởi lẽ thần tính của Người th́ vô biên. Tôi công nhận uy tín của các ngôn sứ khi các ngài tiên báo Người là Con Thiên Chúa như tôi vừa nói. Quả thật, tôi biết các ngôn sứ được ơn trên báo cho biết trước về cuộc giáng lâm của Người đến với nhân gian.”

Tổng trấn Rút-ti-cô nói : “Vậy ngươi là Ki-tô hữu ư ?” Thánh Giút-ti-nô trả lời : “Đúng thế, tôi là Ki-tô hữu.”

Tổng trấn nói với thánh Giút-ti-nô : “Hăy nghe đây, hỡi kẻ được tiếng là thông thái và tưởng ḿnh biết đạo lư thật : nếu ngươi bị đánh đ̣n và bị chặt đầu, ngươi có tin chắc là ngươi sẽ được lên trời không ?” Thánh Giút-ti-nô trả lời : “Tôi hy vọng sẽ được ở trên đó, nếu tôi chịu được những điều này, v́ tôi biết rằng cho đến tận thế, Chúa vẫn dành ơn ấy cho những ai ăn ở ngay lành.”

Tổng trấn Rút-ti-cô nói : “Vậy ngươi tưởng là ngươi sẽ được lên trời và nhận phần thưởng đích đáng sao ?” Thánh Giút-ti-nô trả lời : “Không phải là tưởng mà là biết rơ và chắc chắn như vậy.”

Tổng trấn Rút-ti-cô nói : “Thôi, ta hăy đi vào vấn đề, vào công việc cần thiết và khẩn trương. Vậy các ngươi hăy đồng ḷng tế thần đi.” Thánh Giút-ti-nô trả lời : “Không ai là người có lương tri mà lại bỏ con đường đạo nghĩa để bước vào con đường vô đạo.”

Tổng trấn Rút-ti-cô nói : “Nếu không tuân lệnh, các ngươi sẽ phải chịu khổ h́nh không chút xót thương.” Thánh Giút-ti-nô trả lời : “Chúng tôi ao ước chịu khổ h́nh v́ Đức Giê-su Ki-tô, Chúa chúng tôi, để được cứu độ, v́ điều ấy mang lại cho chúng tôi ơn cứu độ và làm cho chúng tôi vững tin trước toà chung thẩm của Chúa là Thiên Chúa và Đấng cứu độ chúng tôi.”

Các vị tử đạo khác cũng nói như sau : “Ngài muốn làm thế nào tuỳ ư, chúng tôi là Ki-tô hữu, chúng tôi không tế thần.”

Tổng trấn Rút-ti-cô tuyên án : “Ai không muốn tế thần và tuân lệnh hoàng đế, đều phải bị đánh đ̣n và mang đi chặt đầu, phải chịu án tử h́nh theo luật định.”

Các thánh tử đạo ngợi khen Chúa, đi tới pháp trường, bị chặt đầu và hoàn tất cuộc tử đạo khi tuyên xưng Đấng Cứu Độ.

 

Xướng đápx. Cv 20,21.24 ; Rm 1,16

 

X. Tôi đă tuyên xưng niềm tin vào Đức Giê-su Ki-tô, Chúa chúng ta, không chút sợ hăi.

 

Đ. Mạng sống tôi, tôi coi thật chẳng đáng giá ǵ, miễn sao tôi chạy hết chặng đường, chu toàn chức vụ tôi đă nhận là làm chứng cho Tin Mừng về ân sủng của Thiên Chúa.

 

X. Tôi không hổ thẹn v́ Tin Mừng. Quả thế, Tin Mừng là sức Thiên Chúa dùng để cứu độ bất cứ ai có ḷng tin, trước là người Do-thái, sau là người Hy-lạp.

 

Đ. Mạng sống tôi, tôi coi thật chẳng đáng giá ǵ, miễn sao tôi chạy hết chặng đường, chu toàn chức vụ tôi đă nhận là làm chứng cho Tin Mừng về ân sủng của Thiên Chúa.
 

 

Lời nguyện 

Lạy Chúa, Chúa đă ban cho thánh Giút-ti-nô tử đạo ơn hiểu biết sâu xa về Đức Ki-tô, nhờ suy tưởng mầu nhiệm Thập Giá mà thế gian coi là điên dại. Nhờ lời thánh nhân cầu thay nguyện giúp, xin cho chúng con thoát khỏi mọi tư tưởng sai lầm và cương quyết giữ vững niềm tin. Chúng con cầu xin